Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Bộ Công Thương công bố dự thảo quy định “hàng Việt Nam”

Bộ Công Thương vừa công bố dự thảo Thông tư quy định về sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam và sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.

Dự thảo quy định: Hàng hóa không có xuất xứ Việt Nam, nếu chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn công đoạn gia công, chế biến đơn giản như các công việc bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển và lưu kho; các công việc như lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại, lau chùi, sơn, chia cắt ra từng phần; thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng; đóng chai, lọ, đóng gói, bao, hộp và các công việc đóng gói bao bì đơn giản khác; dán lên sản phẩm hoặc bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự; trộn đơn giản các sản phẩm, dù cùng loại hay khác loại; lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh; giết, mổ động vật.

Chương III của dự thảo quy định rõ các trường hợp được coi là hàng hóa của Việt Nam, gồm hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Thông tư và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định tại Điều 9 Thông tư.

Dự thảo cũng nêu rõ các trường hợp không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam. Theo đó, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam, nếu không đáp ứng điều kiện quy định tại Chương III Thông tư, không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên bất kỳ tài liệu, vật phẩm nào chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa đó.

Hàng hóa tạm nhập vào Việt Nam để tái xuất, hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh Việt Nam không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên bất kỳ tài liệu, vật phẩm nào chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa đó.

Theo Bộ Công Thương, dự thảo Thông tư này được xây dựng chủ yếu dựa trên các bộ quy tắc xuất xứ hiện đang áp dụng cho hàng xuất khẩu từ Việt Nam, trong đó có Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 8 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Các phương pháp xác định xuất xứ chủ yếu của thế giới như xuất xứ thuần túy (WO), hàm lượng giá trị khu vực (RVC) hay chuyển đổi mã sản phẩm theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa (Hệ thống HS) của Tổ chức Hải quan Thế giới đều được áp dụng trong dự thảo Thông tư.

Bộ Công Thương khẳng định về nguyên tắc, Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Dự thảo Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà người dân và doanh nghiệp phải tuân thủ.

Các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”, tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm “đội lốt” hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Sưu tầm

 

 

 

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta là DNNVV chậm lớn.

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt – DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí…

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên

DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ.

Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt – DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định.

Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh.

Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất…

Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ…

Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí…

Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV.

Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành.

Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa.

Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ.

Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN.

Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

(Sưu tầm)

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi nào?

Luật Quản lý thuế năm 2019 đã quy định cụ thể về các trường hợp, nguyên tắc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Chấm dứt hiệu lực mã số thuế để giải thể doanh nghiệp cần thủ tục gì?

Hướng dẫn chuyển mã số thuế người phụ thuộc thành người nộp thuế

Trường hợp nào được khôi phục mã số thuế?

Cơ quan thuế khuyến cáo bảo mật thông tin mã số thuế cá nhân

Theo đó, trường hợp người nộp thuế đăng ký thuế cùng với đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký kinh doanh thì thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một là, chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc giải thể, phá sản.

Hai là, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Ba là, bị chia, bị sáp nhập, bị hợp nhất.

Trường hợp người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một là, chấm dứt hoạt động kinh doanh, không còn phát sinh nghĩa vụ thuế đối với tổ chức không kinh doanh.

Hai là, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép tương đương.

Ba là, bị chia, bị sáp nhập, bị hợp nhất.

Bốn là, bị cơ quan thuế ra thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

Năm là, cá nhân chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

Sáu là, nhà thầu nước ngoài khi kết thúc hợp đồng.

Bảy là, nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí khi kết thúc hợp đồng hoặc chuyển nhượng toàn bộ quyền lợi tham gia hợp đồng dầu khí.

Luật Quản lý thuế năm 2019 nêu rõ, mã số thuế không được sử dụng trong các giao dịch kinh tế kể từ ngày cơ quan thuế thông báo chấm dứt hiệu lực; Mã số thuế của tổ chức khi đã chấm dứt hiệu lực không được sử dụng lại.

Mã số thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khi chấm dứt hiệu lực thì mã số thuế của người đại diện hộ kinh doanh không bị chấm dứt hiệu lực và được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ thuế khác của cá nhân đó;

Khi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân chấm dứt hiệu lực mã số thuế thì đồng thời phải thực hiện chấm dứt hiệu lực đối với mã số thuế nộp thay; Người nộp thuế là đơn vị chủ quản chấm dứt hiệu lực mã số thuế thì các đơn vị phụ thuộc phải bị chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

(Sưu tầm)

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Các doanh nghiệp Việt Nam đang quan tâm lớn đến Blockchain

Theo các chuyên gia nước ngoài, Blockchain là cơ hội cho Việt Nam tìm hiểu, khai thác và ứng dụng vào thực tế các lĩnh vực để tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong phát triển ngành sản xuất, tài chính.

Chia sẻ tại hội thảo “Blockchain: Tương lai khả thi cho quản lý tài chính” vừa được Đại học RMIT Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tiến sĩ Chris Berg (Đại học RMIT Australia) nhận định, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, Blockchain đang ngày càng được biết đến là công nghệ có tiềm năng ứng dụng lớn trên thế giới cũng như tại Việt Nam.

Blockchain đang được xem là một trong những phát kiến mang tính đột phá, là một trong những công nghệ tác động mạnh mẽ nhất được phát triển trong những năm gần đây. Với những đặc tính ưu việt như tính bảo mật cao và không thể tẩy xóa, giới công nghệ đánh giá Blockchain sẽ được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như công nghệ tài chính, ngân hàng, công nghiệp sản xuất, dịch vụ, chuỗi cung ứng, giáo dục. Ngoài ra, Blockchain còn được ứng dụng trong các cơ quan chính phủ để quản lý dữ liệu về dân cư, phương tiện giao thông.

Công nghệ Blockchain với thuật toán phức tạp, bảo mật cao, cho phép vô hiệu hóa việc can thiệp sửa đổi dữ liệu, giúp làm giảm phần lớn khả năng xảy ra sai sót khi đối chiếu các thông tin phức tạp từ nhiều nguồn khác nhau. Blockchain cũng loại bỏ yêu cầu sử dụng của một tổ chức trung gian (bên thứ 3), góp phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giảm chi phí trong các giao dịch.

Vì những lợi ích đó, công nghệ này đang được đẩy mạnh ứng dụng trong giao dịch liên ngân hàng, giúp đảm bảo an toàn ở mức cao hơn so với phương thức giao dịch truyền thống.

TS. Chris Berg cho rằng khai thác và ứng dụng blockchain vào ngành tài chính sẽ tạo ra những bước tiến nhảy vọt

Theo TS. Chris Berg, công nghệ Blockchain xuất hiện trên thế giới khoảng 10 năm nay, tuy có nhiều ứng dụng hiệu quả nhưng đến nay thực tế công nghệ này vẫn đang ở trong giai đoạn đầu tiên ứng dụng và tiếp tục được hoàn thiện.

Dù vậy theo đánh giá của chuyên gia đến từ Đại học RMIT, sự phát triển của Blockchain cũng chính là cơ hội cho Việt Nam tìm hiểu, khai thác và ứng dụng vào thực tế các lĩnh vực để tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong phát triển ngành sản xuất, tài chính. Do tiềm năng ứng dụng trong ngành tài chính rất lớn, Việt Nam có thể bắt tay vào nghiên cứu công nghệ Blockchain để tạo ra những bước tiến nhảy vọt trong tương lai.

Các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng đang quan tâm lớn đến công nghệ Blockchain ở cấp độ tối ưu hóa chuỗi cung ứng như ứng dụng để theo dõi luồng hàng xuất – nhập, giao dịch thương mại quốc tế…

Công nghệ Blockchain có những thiết kế, mục đích sử dụng khác nhau cho từng ngành, lĩnh vực, vấn đề đặt ra là phải tối ưu việc ứng dụng. Việt Nam tuy phát triển sau nhiều nước trong ứng dụng Blockchain nhưng có thể học hỏi những kinh nghiệm từ các quốc gia đã phát triển hơn và áp dụng vào thực tế. Ngoài ra công nghệ Blockchain sở hữu những tính năng bảo mật cao, có thể ngăn ngừa rủi ro về an ninh mạng tốt hơn nhiều các công nghệ cũ trước sự tấn công của hacker.

(Sưu tầm)

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Quảng cáo trực tuyến “đốt tiền” doanh nghiệp

Dòng tiền khổng lồ từ ngân sách quảng cáo của doanh nghiệp đang đổ vào các kênh quảng cáo trên mạng xã hội như Facebook, Youtube…

“Đốt tiền” quảng cáo trên Facebook, Google

Việc các thẩm mỹ viện, nha khoa, cửa hàng thực phẩm… chi 25 – 30% doanh thu, hay các cửa hàng bán quần áo, giày dép… chi tới 100% lợi nhuận cho Facebook để nhận về các đơn hàng đã cho thấy, quảng cáo trực tuyến đang là kênh “đốt tiền” lớn nhất của các doanh nghiệp.

“Chi phí dành cho quảng cáo trên Facebook của chúng tôi khoảng 1 tỷ đồng/tháng”, bà Phạm Thị Huệ, Kế toán trưởng Công ty TNHH A.O. Smith Vietnam tiết lộ.

Theo số liệu từ Công ty cổ phần Giải pháp quảng cáo trực tuyến ANTS, năm 2018, chi tiêu cho quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam ước đạt 550 triệu USD. Trong đó, hai “ông lớn” Google và Facebook đã chiếm đến gần 70% thị phần. Cụ thể, quảng cáo trên Facebook chiếm đến 235 triệu USD, Google chiếm 152,1 triệu USD. Các doanh nghiệp/mạng quảng cáo trực tuyến trong nước như VCCorp/Admicro, VNExpress/Eclick, Zing/Adtima… chỉ chiếm khoảng 150 triệu USD.

Bà Trần Thị Thanh Mai, Tổng giám đốc Công ty TNHH Truyền thông TNS Việt Nam nhận định, ngân sách dành cho quảng cáo trong những năm gần đây có sự dịch chuyển mạnh từ các phương thức truyền thống sang trực tuyến. Ngoài doanh nghiệp, các cá nhân, hộ kinh doanh bán hàng trực tuyến cũng góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng này.

Ngay cả bà Sheryl Sandberg, Giám đốc vận hành của Facebook, cũng khẳng định: “Tại châu Á – Thái Bình Dương, 74% doanh nghiệp nhỏ cho biết, việc sử dụng Facebook giúp họ tăng doanh số bán hàng và gần 70% doanh nghiệp nhỏ sử dụng Facebook để tìm kiếm nhân viên mới cho công ty. Tôi đã gặp gỡ các doanh nghiệp ở Việt Nam và những con số trên trở nên chân thực hơn”.

Liên kết để cạnh tranh

Facebook và Google hiện dẫn đầu về thị phần và doanh số quảng cáo trực tuyến. Điều này được dự báo sẽ còn kéo dài, khi Việt Nam đang đứng thứ 7 thế giới về lượng người dùng tiếp cận các hình thức quảng cáo trên Facebook với 59 triệu người dùng, theo báo cáo của Appota.

Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cũng cho biết, hai hình thức quảng cáo được các doanh nghiệp lựa chọn nhiều nhất là mạng xã hội và các công cụ tìm kiếm. Cụ thể, 64% doanh nghiệp được hỏi đã cho biết, quảng cáo trên mạng xã hội đem lại hiệu quả cao nhất, còn 39% doanh nghiệp được hỏi lựa chọn công cụ tìm kiếm.

Trước thực trạng này, các nhà quảng cáo Việt Nam đã liên kết với nhau để cạnh tranh với các đối thủ lớn thông qua việc lập ra Mạng Quảng cáo trên di động (Mobile Ad Network).

Ông Vương Vũ Thắng, Tổng giám đốc VCCorp – đơn vị chủ quản mạng Admicro cho biết, Admicro cũng đã hợp tác với 210 trang tin điện tử và báo điện tử lớn nhất Việt Nam để tạo thành sức mạnh bó đũa nhằm cạnh tranh với Google. Tổng doanh thu của Admicro hiện đạt khoảng 500 tỷ đồng/năm.

Tuy nhiên, trong quảng cáo trực tuyến, công nghệ đóng vai trò quyết định thành bại. “Cạnh tranh trên thị trường quảng cáo trực tuyến phụ thuộc rất nhiều vào năng lực công nghệ”, ông Lê Văn Thanh, đồng sáng lập Cốc Cốc nhận xét.

Theo đó, doanh nghiệp nào có trong tay lượng người dùng lớn, có hệ sinh thái tiện dụng kết nối các nhu cầu giải trí, giao thông, mua sắm, thanh toán… mới đủ sức cạnh tranh với các “ông lớn” công nghệ.

Ở góc độ ngược lại, chính việc phát triển quá nhanh, quá mạnh cũng đang ảnh hưởng đến sự phát triển của Facebook, Google. Hôm 12/9/2018, Nghị viện Liên minh châu Âu (EU) đã thông qua Luật Cải cách bản quyền, buộc các hãng này phải ngăn chặn người dùng đăng tải các nội dung được bảo vệ bản quyền và phải chia sẻ doanh thu với người viết, người làm nhạc.

Nếu án lệ này được áp dụng, sẽ là cơ hội “vùng lên” cho các nhà sản xuất nội dung của Việt Nam và các nhà quảng cáo trực tuyến của Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi.

Trong một diễn biến khác, Luật Quản lý thuế (sửa đổi) mới được Quốc Hội thông qua đã đưa ra quy định về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử.

Các quy định mới đóng vai trò là nền tảng, là cơ sở để các bộ, ngành liên quan ban hành các quy định chi tiết công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử. Qua đó, giúp cán cân cạnh tranh trong quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam sẽ trở nên cân bằng hơn.

(Sưu tầm)

 

 

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

“Phát triển thêm 50.000 doanh nghiệp ICT hạt nhân để đẩy nhanh chuyển đổi số Việt Nam”

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tại Diễn đàn Cấp cao CNTT-TT Việt Nam – Vietnam ICT Summit 2019 với chủ đề: “Chuyển đổi số vì một Việt Nam hùng cường” ngày 8/8/2019.

Cơ hội lớn để Việt Nam thịnh vượng

Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, chuyển đổi số là một cuộc cách mạng vĩ đại của loài người. Chúng ta sống trong thế giới thực từ khi xuất hiện loài người. Đây là lần đầu tiên loài người bước vào thế giới ảo. Không chỉ một phần, mà toàn bộ hoạt động kinh tế và xã hội sẽ được chuyển vào thế giới ảo. Sẽ xuất hiện kinh tế số và xã hội số bên cạnh kinh tế thực và xã hội thực. Và chỉ lúc này thì công nghệ số mới phát huy hết sức mạnh của nó. Cả sức mạnh xây dựng và sức mạnh huỷ diệt.

Chuyển đổi số bao gồm bước một là số hoá. Không chỉ con người được số hoá mà tất cả các vật vô tri vô giác sẽ được số hoá. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các vật vô tri vô giác được cất tiếng nói. Cái mà nhà Phật nói về cây cỏ có thể giao tiếp giờ đây là hiện thực.

Bước hai của chuyển đổi số là hình thành các mối quan hệ mới trong nền kinh tế số, xã hội số – các mối quan hệ mới trong thế giới ảo. Và đây mới là thách thức lớn nhất của chuyển đổi số. Nhưng chính những mối quan hệ mới này, những mô hình kinh doanh mới này mới phát huy hiệu quả của chuyển đổi số. Nó phụ thuộc vào chuyển đổi nhận thức của con người. Nhưng lại là lợi thế của các nước đang phát triển như Việt Nam, vì sự chuyển đổi nhận thức này không phụ thuộc vào cơ sở vật chất mà một nước đang sở hữu. Các nước đi sau thì ít gánh nặng của quá khứ, cả về hạ tầng vật chất và thể chế, cả về năng lực cạnh tranh của thời 2.0, 3.0. Những gánh nặng quá khứ này có thể lại là cản trở cho 4.0, vì 4.0 cần năng lực cạnh tranh mới, hạ tầng mới, thể chế mới.

“Nếu chúng ta có chính sách phù hợp thì Việt Nam sẽ tận dụng được cơ hội này để vượt lên thành nước phát triển. Chuyển đổi số là một cuộc cách mạng về chính sách và thể chế nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Và đây lại càng là lợi thế của Việt Nam khi chúng ta có Đảng lãnh đạo, có thể đưa ra được những quyết sách lớn một cách nhanh và tập trung, tạo ra sự thống nhất trong toàn xã hội”, ông Hùng phát biểu.

Chuyển đổi số mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam. Nhưng đây là một sự thay đổi mang tính toàn diện, đến từng doanh nghiệp, từng tổ chức, đến từng người dân, đến mọi lĩnh vực. Một khối lượng công việc khổng lồ, một sự chuyển dịch mang tính lịch sử, ngàn năm mới có một lần. Việt Nam muốn thay đổi thứ hạng thế giới thì phải đi nhanh và đi đầu để có lợi thế cạnh tranh. Chuyển đổi số không cần nhiều cơ sở vật chất mà cái cần chính là thay đổi tư duy. Những nước đi sau như Việt Nam lại là cơ hội. Thêm vào đó là văn hoá người Việt Nam thích ứng nhanh với cái mới, ham học hỏi cái mới, sáng tạo trong ứng dụng cái mới.

50.000 doanh nghiệp ICT làm hạt nhân

Bộ trưởng khẳng định, đặt câu hỏi và cũng tự trả lời: “Cơ hội đang đến. Vậy ai sẽ là hạt nhân của quá trình chuyển đổi này? Đó là các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. Là các doanh nghiệp ICT Việt Nam. Chúng ta phải phát triển thêm 50.000 doanh nghiệp ICT tại khắp các tỉnh thành để đẩy nhanh chuyển đổi số Việt Nam. Chúng ta sẽ tập trung phát triển 4 loại doanh nghiệp công nghệ số. Một là các doanh nghiệp công nghệ lớn, làm chủ NCPT các công nghệ cốt lõi và đầu tư hạ tầng ICT, khoảng 10-20 doanh nghiệp, đó là các doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, thị trường và nhân lực.

Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ lớn như Viettel, Vingroup có thể chuyển thành các tập đoàn công nghệ, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Hai là các doanh nghiệp công nghệ đã 10-20 năm kinh nghiệm, hiện chúng ta đang có hàng ngàn doanh nghiệp, nhưng lại đang chủ yếu làm gia công thì nay sẽ chuyển sang làm sản phẩm, tập trung làm các Platforms chuyển đổi số. Ba là các doanh nghiệp công nghệ mới khởi nghiệp, làm tư vấn công nghệ, chuyển giao công nghệ, mang công nghệ số áp dụng vào mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Chúng ta sẽ cần hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn doanh nghiệp loại này. Bốn là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới đột phá. Việt Nam có được hàng trăm doanh nghiệp loại này thì đã là rất thành công”.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng tại Diễn đàn ICT Summit 2019.

Ông tiếp tục đặt câu hỏi: “Có cách nào để chuyển đổi số nhanh hơn không? Nếu chúng ta cứ phải tới từng cơ quan, từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình để làm chuyển đổi số cho họ thì sẽ rất lâu. Vì số đầu mối này là hàng chục triệu. Vậy có cách tiếp cận nào mới và đột phá không? Chúng ta sẽ tạo ra các Platforms số để các cơ quan, doanh nghiệp, hộ gia đình, người dân sử dụng. Sử dụng các platform số này tức là lên môi trường số, tức là hoạt động trong môi trường số. Chúng ta có hàng ngàn báo và tạp chí. Nếu từng cơ quan này phải đầu tư nền tảng số thì sẽ rất tốn kém, nhiều cơ quan báo chí không có đủ nguồn lực, cả về tài chính và nhân lực để đầu tư. Nhưng nếu có một Platform để các báo có thể lên đó, tiếp cận người đọc, tiếp cận quảng cáo thì hàng ngàn cơ quan báo chí có thể chuyển đổi sang môi trường số rất nhanh.

Tương tự như vậy, nếu Misa, một công ty CNTT về phần mềm kế toán, đầu tư một nền tảng, để những người làm kế toán chuyên nghiệp có thể làm dịch vụ kế toán cho các doanh nghiệp, để cung cấp dịch vụ kế toán cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc chuyển đổi số về kế toán cho các doanh nghiệp sẽ diễn ra rất nhanh. Đồng thời, nó cũng kích thích các hộ kinh doanh chuyển sang doanh nghiệp vì không phải đi thuê kế toán viên, vốn là việc rất khó, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Vậy nên, các doanh nghiệp ICT, mỗi người phải nhận lấy một nền tảng số để xây dựng, góp phần đẩy nhanh công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Các bạn đã được đất nước này nuôi dưỡng nhiều năm nay, đã học hỏi được nhiều tri thức trong chặng đường phát triển trước đây, bây giờ là lúc cần đến để làm những điều lớn lao cho đất nước.

“Hãy thức dậy và chạy như chưa bao giờ được chạy! Và hôm nay, chúng ta sẽ chứng kiến sự ra mắt của Liên minh chuyển đổi số quốc gia, 8 doanh nghiệp đầu tiên cam kết về đầu tư hạ tầng và Platforms chuyển đổi số. Sẽ có nhiều hơn nữa các doanh nghiệp tham gia vào công cuộc cách mạng này”, Bộ trưởng nói.

Bộ trưởng cũng cho biết thêm, năm nay, Việt Nam sẽ tuyên bố chiến lược về chuyển đổi số quốc gia, để tiến tới một nền kinh tế số, xã hội số. Các yếu tố nền tảng sẽ được nhấn mạnh, sẽ được đầu tư trước, sẽ đi trước, sẽ phải có thứ hạng cao trên thế giới, phải nằm trong top 50 vào năm 2025 và top 30 vào năm 2030. Chúng ta nhấn mạnh 5 yếu tố nền tảng là: Thể chế, Hạ tầng, An ninh mạng, Platform và Đào tạo.

Về thể chế thì quan trọng nhất là chính sách thu hút nhân tài toàn cầu, là sự chấp nhận các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới, các mối quan hệ mới trong thế giới ảo, đi đôi với việc bảo vệ các giá trị căn bản của nhân loại, của văn hoá Việt Nam, luôn lấy con người làm trung tâm trong quá trình chuyển đổi số. Cái mới thì chưa biết nên cũng không thể biết cách quản lý, do vậy cơ chế sandbox, tức là cho thử nhưng giới hạn trong một không gian và thời gian nhất định, là cách tiếp cận cái mới tốt nhất.

Về hạ tầng thì quan trọng nhất là chuyển đổi hạ tầng viễn thông thành hạ tầng ICT và làm chủ các công nghệ nền tảng của chuyển đổi số, như IoT, Big Data, AI, AR. Rất nhiều công nghệ mới đang xuất hiện cho phép Việt Nam chuyển đổi hạ tầng viễn thông thành hạ tầng ICT thế hệ mới. Và không chỉ là việc mua công nghệ và thiết bị mà còn là cơ hội cho Việt Nam làm chủ công nghệ và sản xuất thiết bị hạ tầng ICT.

Nếu chúng ta coi mục tiêu của chuyển đổi số là phát triển quốc gia hùng cường, động lực của chuyển đổi số là thể chế, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì tiền đề của chuyển đổi số chính là an toàn, an ninh không gian mạng. Việt nam muốn dựa vào chuyển đổi số để phát triển thành quốc gia hùng cường thì Việt Nam phải là cường quốc về an ninh mạng để đảm bảo an toàn cho quá trình này, tạo niềm tin số cho mọi người.

Lời giải để đẩy nhanh chuyển đổi số Việt Nam là dựa trên các Platforms. Chuyển đổi số thì khó nhất là toàn dân và toàn xã hội. Nhưng chuyển đổi số chỉ phát huy hết sức mạnh của nó khi toàn dân, toàn xã hội kết nối số. Sức mạnh của kết nối không phải cấp số cộng, không phải cấp số nhân mà là hàm số mũ. Một nền tảng Platform có thể kết nối hàng triệu người, hàng ngàn doanh nghiệp. Platform văn minh ở chỗ giá trị tạo gia được chia sẻ giữa người tham gia và người tạo Platform nên sẽ thúc đẩy tất cả các bên. Lợi thế Việt Nam là có nhiều doanh nghiệp CNTT có năng lực, có thể phát triển các Platforms phù hợp cho chuyển đổi số Việt Nam.

Đào tạo nhân lực cho chuyển đổi số thì quan trọng nhất là đào tạo lại và đào tạo nâng cao. Nhưng chuyển đổi số là chặng đường dài nhiều thập kỷ, liên quan đến mọi người nên muốn căn cơ thì ICT phải được coi là kỹ năng cơ bản như biết đọc, biết viết cho học sinh từ cấp học thấp nhất. Và cũng chính ICT là lời giải tốt nhất cho nhiều vấn đề của giáo dục hiện nay. Giáo dục bằng công nghệ ICT cũng chính là cách tốt nhất để dạy kỹ năng số cho học sinh.

Để chuyển đổi số, Việt Nam có thể chọn chiến lược 3 bước. Bước một, đẩy nhanh việc số hoá các lĩnh vực. Bước hai, sử dụng chuyển số như một lợi thế cạnh tranh trong từng lĩnh vực, từng tổ chức. Bước ba, tiến tới nền kinh tế số toàn diện, hình thành các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Chuyển đổi số cần sự dẫn dắt của Chính phủ. Không chỉ là kiến tạo môi trường cho chuyển đổi số thông qua thể chế, mà còn là đi đầu trong chuyển đổi số. Đầu tư cho chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số, kinh tế số; đầu tư cho đô thị thông minh hướng tới xã hội số; thúc đẩy các bộ, ngành chuyển đổi số; thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong chuyển đổi số doanh nghiệp; v.v… Đây sẽ vừa là Nhà nước đi đầu và cũng vừa là kiến tạo thị trường chuyển đổi số cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam phát triển.

“Ba mươi năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và công cuộc chuyển đổi số sẽ tạo ra động lực phát triển mới cho Việt Nam trong các thập kỷ tới. Thế hệ chúng ta đang đứng trước những cơ hội vô giá trong sứ mệnh đưa đất nước đến phồn vinh hùng cường. Tôi rất mong các bạn cùng các doanh nghiệp của mình hãy cùng kề vai sát cánh, mạnh mẽ đột phá vươn lên, để dân tộc Việt Nam chúng ta sớm được sánh nganh vai các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi.

Khi cuộc cách mạng số, cách mạng công nghiệp 4.0 xảy ra thì tương lai không nằm trên đường kéo dài của quá khứ, nó tạo cơ hội cho các đổi mới sáng tạo. Các nước như Việt Nam chúng ta có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự. Cả quản lý nhà nước, cả doanh nghiệp, đều cần một sự đột phá trong tư duy, trong chính sách, trong cách tiếp cận”, Bộ trưởng gửi thông điệp tới Diễn đàn.

(Sưu tầm)

 

 

 

 

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Việt Nam kiên quyết ngăn chặn hàng hóa nước ngoài dùng nhãn mác Việt Nam để xuất khẩu sang nước thứ ba

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng làm rõ các biện pháp Việt Nam thực hiện để ngăn chặn hàng hóa nước ngoài dùng nhãn mác Việt Nam để xuất khẩu sang nước thứ ba.

Chiều 8/8 tại phiên họp thường kỳ Bộ Ngoại giao, trao đổi với báo chí về các biện pháp Việt Nam thực hiện để ngăn chặn hàng hóa nước ngoài dùng nhãn mác Việt Nam để xuất khẩu sang nước thứ ba, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: Việt Nam kiên quyết phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi gian lận thương mại, gian lận xuất xứ trên thị trường Việt Nam cũng như trong hoạt động xuất nhập khẩu nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam.

“Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ, trong đó chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan triển khai quyết liệt và đồng bộ nhiều biện pháp về nâng cao nhận thức, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài; thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật về phòng vệ thương mại, xuất xứ, hải quan, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại; ngăn chặn, điều tra và xử lý nghiêm các hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ hàng hóa”, bà Lê Thị Thu Hằng nói.

Cũng theo Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, các Bộ, ngành liên quan đang thực thi nghiêm túc Đề án này. Hiện Bộ Công Thương đang khẩn trương xây dựng các quy định, tiêu chí rõ ràng, cụ thể để làm cơ sở xác định hàng hóa sản xuất tại Việt Nam với hàng hóa gian lận xuất xứ. Các cơ quan hải quan phối hợp với các cơ quan chức năng khác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là đối với hàng hóa có rủi ro gian lận thương mại; điều tra, xử lý nghiêm khắc các hành vi gian lận.

Bên cạnh đó, cơ quan chức năng của Việt Nam cũng tăng cường hợp tác, phối hợp, trao đổi thông tin với các cơ quan chức năng các nước nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp gian lận trong hoạt động xuất nhập khẩu.

(Sưu tầm)

 

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Đất mua trong thời kỳ hôn nhân chỉ đứng tên chồng có được không?

Chồng muốn đứng tên một mình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy có được không?

Độc giả hỏi:

Vợ chồng tôi chuẩn bị mua một mảnh đất, nhưng chồng tôi muốn đứng tên một mình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy liệu có được không? Mong luật sư tư vấn giúp, tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Theo Luật sư Tạ Quốc Cường, Giám đốc Công ty luật Hợp danh Sự thật trả lời độc giả như sau:

Tại Điều 98, Luật Đất đai 2013 quy định về Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định như sau:

Quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên của vợ và của chồng.

“Điều 98. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
….

4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.”

Ngoài ra Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

“Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này, nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này”

Đồng thời, Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định vấn đề này như sau:

“Điều 12. Đăng ký tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu.

2. Đối với sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng.

3. Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.”

Trong trường hợp của bạn, hai vợ chồng mua mảnh đất trong thời kỳ hôn nhân (tài sản chung của vợ chồng) thì khi đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải có họ tên của vợ chồng trên giấy chứng nhận trừ trường hợp có thỏa thuận khác, tuy nhiên để tránh những tranh chấp có thể xảy ra thì tài sản chung nên lựa chọn đứng tên cả hai vợ chồng sẽ là căn cứ cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật sư Tạ Quốc Cường về vấn đề mà bạn quan tâm, nếu bạn còn những thắc mắc khác xin hãy liên hệ với Luật sư để được giải đáp các vấn đề thắc mắc của bạn.

(Sưu tầm)

 

 

 

 

 

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Cổ phiếu PVS giao dịch nhộn nhịp

Với kết quả kinh doanh khả quan trong quý I/2019 cũng như 6 tháng đầu năm 2019, cổ phiếu PVS của Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) được nhiều nhà đầu tư trên thị trường quan tâm.

Năm 2018, trong bối cảnh thị trường hết sức khó khăn, nhưng với lợi thế quy mô, nguồn lực, tính chuyên nghiệp, sáng tạo, kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế, PTSC đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch với doanh thu hợp nhất đạt 15.233 tỉ đồng (117% kế hoạch); lợi nhuận hợp nhất trước thuế 976 tỉ đồng (139% kế hoạch).

Bên cạnh đó, PTSC đã thực hiện an toàn, chất lượng, đúng tiến độ, có hiệu quả các hợp đồng cung cấp sản phẩm dịch vụ trong các lĩnh vực chủ yếu là dịch vụ tàu, dịch vụ FPSO/FSO, dịch vụ căn cứ cảng, dịch vụ vận hành và bảo dưỡng, dịch vụ chế tạo lắp đặt công trình dầu khí EPC/EPCI, công trình công nghiệp trên bờ trong và ngoài ngành Dầu khí cho các khách hàng trong và ngoài nước, tiếp tục khẳng định uy tín, thể hiện khả năng cạnh tranh của PTSC trên thị trường dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Công tác phát triển kinh doanh được đẩy mạnh, đạt những kết quả tốt như thắng thầu Dự án Al Shaheen tại thị trường Qatar, khẳng định năng lực và uy tín của PTSC tại thị trường quốc tế. Các chỉ số tài chính của PTSC được duy trì ổn định, an toàn. Cơ cấu tổ chức và năng lực bộ máy được tiếp tục hoàn thiện, hoạt động ngày càng hiệu quả hơn…

Bước vào năm 2019 với tâm thế vững vàng, PTSC xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh với các chỉ tiêu chủ yếu: Tổng doanh thu 13.000 tỉ đồng; lợi nhuận trước thuế 700 tỉ đồng; lợi nhuận sau thuế 560 tỉ đồng; nộp ngân sách Nhà nước 600 tỉ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu hợp nhất của PTSC đạt 8.500 tỉ đồng (163% kế hoạch 6 tháng, bằng 65% kế hoạch năm, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước); lợi nhuận hợp nhất trước thuế ước 650 tỉ đồng (232% kế hoạch 6 tháng, bằng 93% kế hoạch năm, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước).

Các dự án lớn mà PTSC đã trúng thầu EPC và đang triển khai trong giai đoạn 2019-2021 bao gồm: Sao Vàng Đại Nguyệt (600 triệu USD), Gallaf-Al Shaheen (300 triệu USD), LNG Thị Vải (200 triệu USD), Lọc dầu Long Sơn (300 triệu USD), Kho Gò Dầu, Cảng Hải Phòng, Vopak-Galaxy mở rộng giai đoạn III. Ngoài ra, PTSC sẽ tiếp tục tham gia đấu thầu một số dự án tiềm năng khác như: Nam Côn Sơn 2 (500 triệu USD), Nam Du U Minh (100 triệu USD), Salman Development (500 triệu USD), Block B (1,3 tỉ USD)… cho giai đoạn từ nay đến năm 2023. Trong chiến lược dài hạn, PVS sẽ mở rộng hoạt động sang nhiều dự án trên bờ hơn, đặc biệt là các dự án dầu khí.

Năng lực tài chính tích lũy dồi dào hiện nay (tổng tài sản 23.979 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu 13.066 tỉ đồng, tiền và tương đương tiền và đầu tư tài chính 7.238 tỉ đồng) sẽ bảo đảm cho PTSC có đầy đủ nguồn lực tài chính để có thể thực hiện tốt các dự án mới, nâng cao uy tín và thương hiệu doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật Dầu khí, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao.

Với những kết quả kinh doanh trong quý I/2019 cũng như 6 tháng đầu năm 2019 khả quan, cổ phiếu PVS của PTSC được nhiều nhà đầu tư trên thị trường quan tâm. Báo cáo đánh giá của các công ty chứng khoán đều đánh giá triển vọng lạc quan của PTSC không chỉ trong năm 2019 mà cả giai đoạn đến năm 2023, qua đó khuyến nghị cơ hội đầu tư dài hạn vào cổ phiếu PVS.

Báo cáo cập nhật đầu năm 2019 của Công ty CP Chứng khoán Dầu khí (PSI) nhận định: Cơ hội đầu tư vào cổ phiếu PVS cho dài hạn từ 2019-2023 là rất khả quan với hàng loạt các dự án mà PTSC trúng thầu thời gian qua như: Sao Vàng Đại Nguyệt, Nam Côn Sơn 2 giai đoạn 2, Gallaf-Al Shaheen… và các dự án đang tham gia đấu thầu… PSI khuyến nghị đầu tư vào PVS với giá mục tiêu 12 tháng là 27.000-28.000 đồng/cổ phiếu.

Mới đây, cuối tháng 6-2019, báo cáo của Công ty CP Chứng khoán SSI cũng đưa ra nhận định doanh thu và lợi nhuận năm 2019 của PTSC ước đạt 16.370 tỉ đồng và 1.176 tỉ đồng, khuyến nghị “mua” cổ phiếu PVS với giá mục tiêu 12 tháng là 27.000 đồng/cổ phiếu.

Cổ phiếu PVS được nhà đầu tư giao dịch rất nhộn nhịp trên thị trường chứng khoán, thanh khoản trung bình trong 6 tháng đầu năm đạt 3,5 triệu cổ phiếu/phiên. Nhà đầu tư nước ngoài cũng tham gia với lượng mua bán đạt 66,08 triệu cổ phiếu, trong đó mua ròng 20,88 triệu cổ phiếu.

Giá cổ phiếu PVS tăng khá mạnh trong 6 tháng đầu năm 2019, từ mức 17.200 đồng/cổ phiếu lên 22.700 đồng/cổ phiếu vào ngày 26-5

(Sưu tầm)

Chuyên mục
Bản Tin Nhà Đất

Thu hút FDI: Chờ đón dự án tỷ đô

Vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sụt giảm so với cùng kỳ năm trước chỉ mang tính nhất thời vì sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài tới Việt Nam rất lớn.

 

Cần nhắc lại rằng, những tháng đầu năm nay, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam luôn trong tình trạng tăng mạnh, liên tục đạt các kỷ lục mới. Từ đầu tháng 6/2019, dòng vốn này mới sụt giảm.

 

Cụ thể, nếu tính chung cả vốn cấp mới, tăng thêm và vốn đầu tư qua góp vốn, mua cổ phần, trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là 18,47 tỷ USD, bằng 90,8% so với cùng kỳ năm 2018. Nếu tính riêng, trong quý I và II/2019, tổng vốn FDI cấp mới giảm 37,2%, còn vốn tăng thêm giảm 33,8%, vốn đầu tư qua góp vốn, mua cổ phần tăng 98,1%.

Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, con số là trên 20,2 tỷ USD, giảm 13,4% so với cùng kỳ 2018. Như vậy, trên thực tế, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm chủ yếu do vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm giảm. Sự sụt giảm mạnh nói trên chủ yếu là do vào thời điểm này năm ngoái, có nhiều dự án quy mô lớn, như Laguna Lăng Cô, Lotte Mall, Thành phố thông minh, Nhà máy sản xuất PP và kho ngầm chứa dầu mỏ hóa lỏng của Hyosung được cấp chứng nhận đầu tư mới hoặc tăng vốn.

 

Tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án này đã lên trên 7 tỷ USD. Trong khi đó, 7 tháng đầu năm nay không có dự án quy mô tỷ USD nào được cấp chứng nhận đầu tư hay điều chỉnh tăng vốn.

 

Sự thiếu vắng các dự án quy mô lớn là lời giải hợp lý nhất cho sự sụt giảm của vốn FDI vào Việt Nam những tháng qua cho dù trên thực tế, số lượng dự án đăng ký vào Việt Nam vẫn tăng nhanh. Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, số dự án cấp mới 7 tháng các năm 2015-2019 lần lượt là: 1.068;  1.408; 1.378; 1.656 và 2.064 dự án.

 

Số dự án vẫn tăng chứng tỏ mối quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài tới thị trường Việt Nam vẫn rất lớn. Bởi thế, sự sụt giảm dòng vốn FDI vào Việt Nam trong 2 tháng gần đây chỉ mang tính chất nhất thời, nhiều dự án tỷ đô đang trong quá trình đàm phán hoàn tất.

 

Trên thực tế, không phải lúc nào cũng có các dự án đầu tư có vốn đăng ký hàng tỷ USD. Hơn nữa, nếu vấn đề chỉ nằm ở sự thiếu vắng các dự án quy mô lớn, thì một khi các dự án quy mô tỷ USD quay trở lại, dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ ngay lập tức đổi chiều.

 

Mặc dù vậy, ở góc nhìn khác, cũng phải thấy rằng, không thể không quan tâm đến xu hướng dòng vốn FDI sụt giảm. Thêm vào đó, cũng cần quan tâm đến mối quan ngại của các chuyên gia kinh tế rằng, trên thực tế, mới chỉ có dòng vốn đầu tư “tầm trung” vào Việt Nam, chứ chưa phải dòng vốn đầu tư có chất lượng cao. Dự án đầu tư quy mô lớn không có nghĩa là dự án có chất lượng cao, cũng như dự án quy mô nhỏ không có nghĩa chất lượng thấp. Tuy vậy, nhiều năm nay, Cục Đầu tư nước ngoài luôn lên tiếng về việc có rất nhiều dự án “li ti”, vốn có khi chỉ vài chục ngàn USD, đăng ký vào Việt Nam. Dự án quá nhỏ thì khó có thể kỳ vọng có những tác động lan tỏa tới kinh tế – xã hội Việt Nam. Hơn nữa, dù vốn FDI thực hiện vẫn không ngừng tăng qua các năm, song tốc độ tăng đã không nhanh như trước. Ngoài ra, cần quan tâm nhiều hơn tới vốn giải ngân, bởi đây mới đúng là số vốn đã được đổ vào Việt Nam.

 

Vốn giải ngân tăng không cao một phần do năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế. Đây chính là một trong những vấn đề cần giải quyết khi định hướng chiến lược mới về thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn tới được thực hiện.

 

 (Sưu tầm)